VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH TRONG DẠY HỌC GÓP PHẦN HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

10/24/2018 8:02:39 AM

Kho tàng tri thức nhân loại tích lũy được là vô tận, nhà trường không thể truyền đạt hết được những nội dung kiến thức cần có cho người học. Vì vậy, để có thể sống và làm việc thì phải học suốt đời, muốn vậy ngay từ trong nhà trường phải cần trang bị cho học sinh phương pháp tự học.

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC VỚI SÁCH TRONG DẠY HỌC GÓP PHẦN HÌNH THÀNH NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

           Phạm Đăng Khoa – Hiệu trưởng trường THCS Đồng Lê

Dạy học trong nhà trường bao giờ cũng tồn tại, thống nhất biện chứng của ba thành phần bao gồm: Giáo viên, học sinh và tài liệu chứa đựng nội dung dạy học (SGK). Học sinh là đối tượng cần phát triển nhận thức thế giới khách quan một cách có hệ thống; Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo là nguồn tri thức khoa học  phát triển nhận thức tri thức trong chương trình giáo dục phổ thông; Giáo viên có sứ mệnh cao cả, bằng nghệ thuật sư phạm của mình tổ chức học sinh hoạt động nhận thức chiếm lĩnh tri thức trong chương trình đề ra. Như vậy nhiệm vụ học của học sinh trong hoạt động học dưới sự điều khiển của giáo viên bằng năng lực quan sát và năng lực tư duy của mình qua quá trình học thu về cho bản thân hiểu biết mới bằng hành động học; trong quá trình đó phải đồng hành nhiệm vụ dạy (điều khiển) của giáo viên, nhiệm vụ học (kiến tạo tri thức) của học sinh.

Kho tàng tri thức nhân loại tích lũy được là vô tận, nhà trường không thể truyền đạt hết được những nội dung kiến thức cần có cho người học. Vì vậy, để có thể sống và làm việc thì phải học suốt đời, muốn vậy ngay từ trong nhà trường phải cần trang bị cho học sinh phương pháp tự học.

1. Vài nét về phương pháp làm việc với sách

- Nhà sư phạm - dân chủ tiến bộ người Đức Ađôif Đixtecvec (1790-1866), theo ông giáo viên có sứ mệnh chủ yếu là kích thích sự sốt sắng của học sinh, dạy họ lao động, giáo dục tình yêu đối với học tập khoa học, bồi dưỡng tính tích cực, tính sáng kiến. Ông kêu gọi giáo viên: “Hãy bắt buộc học sinh làm việc, làm việc có sáng kiến cá nhân hãy dạy cho các em thấy rằng không có nghĩa gì khác hơn là phải tiếp thu được cái gì đó bằng chính  sức  mình; dạy các em độc lập suy nghĩ , tìm tòi , thi thố tài năng, phát huy những sức mạnh tiềm tàng của mình”

- Trong tài liệu “Những cơ sở của lý luận dạy học” của Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên xô – viện lý luận và lịch sử giáo dục học” của GS.TS giáo dục học B. P. Êxipôp chủ biên (NXB GD-1977) ghi rõ: “Phương pháp làm việc với sách được gọi như vậy là là vì căn cứ theo dấu hiệu hình thức bên ngoài của hoạt động học học sinh, nhưng bản chất của nó lại được xác định bởi tính chất các nhiệm vụ nhận thức. Bởi vì khi vạch ra phương pháp nghiên cứu cả quá trình hoạt động nhận thức của học sinh và hoạt động hướng dẫn của giáo viên”;

- Trong “Lý luận dạy học ở trường trung học cơ sở - giáo trình Cao đẳng sư phạm” của PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo (chủ biên) ghi rõ: “Bản chất phương pháp sử dụng SGK và tài liệu học tập là ở chỗ: trong quá trình tự lực làm việc với chúng, học sinh năm vững đào sâu, mở rộng tri thức, đồng thời hình thành kỹ năng, kỹ xảo về đọc sách”;

- Theo  PGS. TSKH Nguyễn Văn Hộ trong cuốn “Lý luận dạy học” chỉ ra rằng: “Trong học đường, học sinh ở mọi cấp học đều phải sử dụng các loại sách như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tư liệu có liên quan tới nội dung môn học và cả những sách đáp ứng nhu cầu giải trí của tuổi trẻ. Việc sử dụng sách như là nguồn tri thức nếu có sự quan tâm đúng mức của giáo viên, sách sẽ góp phần mở rộng, đào sâu vốn hiểu biết, rèn luyện ngôn ngữ, tăng cường năng lực thụ cảm, óc nhận xét, phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, tình cảm và tư tưởng trong sáng”.

- Giáo trình phương pháp dạy học bộ môn toán của PGS Hoàng Chúng (NXB GD -1977) Ông đề ra yêu cầu “Phải từng bước xây dựng cho học sinh thói quen và khả năng đọc sách toán, không chỉ đọc để hiểu mà tiến tới đọc một cách sáng tạo nghĩa là đọc có phân tích, phê phán, biết thắc mắc biết hệ thống hóa vấn đề, biết từ những kiến thức ở trong sách rút ra mà sách chưa đề cập đến” 

Trong tài liệu “Quy trình tổ chức học sinh làm việc với sách giáo khoa trong dạy học Sinh học ở trung học phổ thông” của PGS.TS Nguyễn Duân (Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM Số 34 năm 2012) và tài liệu tập huấn về "Phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học" của Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn đã chỉ ra  quy trình dạy học thiết kế tiến trình dạy học theo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động học theo nhóm và hướng dẫn học sinh tự học.

Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2018-2019 Bộ GD&ĐT nêu rõ: “Chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học, tự nghiên cứu sách giáo khoa để tiếp nhận và vận dụng kiến thức mới thông qua giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra trong bài học”.

Các tài liệu trên đã khảng định Phương pháp làm việc với sách là PPDH được sử dụng trong nhà trường.

2. Một số hạn chế bất cập trong tổ chức khai thác SGK trong dạy học phổ biến hiện nay

Vốn sách giáo khoa (SGK) là nơi chứa đựng nội dung tri thức được quy định bởi chuẩn KTKN môn học, là đối tượng tri thức mà giáo viên phải có nhiệm vụ chuyển giao cho học sinh. Đối với học sinh, SGK là đối tượng tương tác cơ bản để chiếm lĩnh nội dung bài học thông qua hoạt động nhận thức.

Phương pháp làm việc với sách giáo khoa lâu nay giáo viên đã sử dụng phổ biến trong hầu hết các môn học đối với các tiết dạy hình thành kiến thức mới. Học sinh làm việc với sách giáo khoa theo yêu cầu của giáo viên để phối hợp trong quá trình kiến tạo tri thức. Nhưng trong thực tế chưa thực hiện đúng yêu cầu của phương pháp; ngược lại việc sử dụng SGK thiếu hợp lý đó là học thuộc sách giáo khoa để phục vụ kiểm tra, đọc lại nội dung sách giáo khoa để trả lời câu hỏi của giáo viên (tái hiện sách giáo khoa như dạy định nghĩa khái niệm, dạy quy tắc,...); học sinh chỉ chú trọng đọc phần kiến thức bài học nhất là phần in đậm, phần đóng khung, ghi nhớ, quy tắc mà ít không quan tâm đến đọc để tìm ra quá trình hình thành tri thức; đặc biệt không muốn đọc phần đọc thêm, phần mở rộng, hình ảnh lược đồ, sơ đồ, vì các thông tin ấy giáo viên thường không đưa vào kiểm tra bài. Học sinh chưa thấy được ý nghĩa các kênh chữ, kênh hình; chưa thấy được việc đọc chú thích sau tác phẩm văn học sẽ biết được tác giả, biết năm tác phẩm ra đời là cho ta thêm thông tin về không gian, thời gian, bối cảnh lịch sử xã hội, tư tưởng tác giả để dễ bề tiếp cận và hiểu sâu nội dung tác phẩm.

Trong các nguyên nhân dẫn đến học sinh làm việc với SGK chưa có hiệu quả ấy có hai nguyên nhân, nguyên nhân thứ nhất là do giáo viên tạo ra đó là đọc hình thức, đọc để đánh giá tính “lưu loát”, “diễn cảm”, ‘đọc trôi chảy”, “đọc thuộc lòng”; đọc nhưng không giao nhiệm vụ khai thác thông tin. Nguyên nhân thứ hai là kiểu “thi gì học nấy” khi mà thi tái hiện nhớ kiến thức thì học thuộc là thượng sách.

3. Hoạt động học tương thích với phương pháp làm việc với sách giáo khoa

Đổi mới phương pháp đòi hỏi phải đặt ra cho giáo viên và cho học sinh làm việc với SGK một cách khoa học, khai thác triệt để thông tin trong tài liệu và tri thức từ tài liệu thông qua hoạt động nhận thức để kiến tạo nên hiểu biết mới cho học sinh sau quá trình học tập.

Học sinh làm việc với sách giáo khoa trên lớp không phải giáo viên khoán trắng học sinh đọc - hiểu theo chủ quan mỗi người mà đọc sách trong môi trường tương tác Trò – Thầy - Sách; là hoạt động có tổ chức, tuân thủ quá trình nhận thức “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Trực quan sinh động được khơi dậy trong phần đặt vấn đề, kích thích gây động cơ giai đoạn của giáo viên, trong hình ảnh, từ ngữ văn bản, trong óc tưởng tượng của học sinh, trong nghệ thuật dẫn dắt tiếp cận nội dung bài học của giáo viên. Tư duy trừu tượng là quá trình xử lý thông tin giữa văn bản tài liệu SGK với câu hỏi định hướng tư duy và đánh giá kết quả đọc hiểu; là quá trình kết nối thông tin giữa kiến thức cũ và mới, giữa kênh chữ, kênh hình, sơ đồ, lược đồ, hình ảnh,...để kiến tạo hiểu biết mới.

Dựa trên quan điểm lý luận nhật thức biện chứng, dạy học  tổ chức học sinh làm việc với sách giáo khoa diễn ra quá trình như sau:

Hoạt động học của học sinh trong quá trình đọc hiểu một đoạn thông tin trong sách gồm 2 giai đoạn đó là giai đoạn nhận thức cảm tính và giai đoạn nhận thức lý tính. Giai đoạn nhận thức cảm tính là hành động của các giác quan để “quét” thông tin bao gồm các hành động đọc chữ, đọc chú thích chú dẫn để hiểu các từ mới, các điển tích, các từ ngữ chuyên môn và đọc kênh hình để xác định đối tượng được minh họa; tất cả kênh chữ kênh hình đều cốt yếu giúp người đọc hiều thông tin đoạn văn bản. Giai đoạn này học sinh làm việc bằng khả năng quan sát kết hợp kết nối thông tin giữa kênh chữ, kênh hình; thông tin thu được lưu giữ trong bộ nhớ tạm trong bộ não; nghĩa là thấy gì nhớ nấy, nhớ hình thức, nhớ không hiểu bản chất. Học sinh nhớ thông tin đọc được ở đây kể cả thuộc lòng cũng chưa phải là mục đích hoạt động học. Khi học sinh làm việc cá nhân với tài liệu, do một số từ ngữ, khái niệm đã học bị quên, hoặc từ ngữ chuyên môn buộc các em phải cần đến sự chia sẽ của bạn, sự hỗ trợ của giáo viên để giúp các em kết nối thông tin và xử lý thông tin trong khi đọc. Giáo viên không phải chờ đến học sinh yêu cầu mà phải dự đoán các em sẽ gặp khó khăn gì và thông tin để hỗ trợ như thế nào. Cao hơn nữa giáo viên có nhiệm vụ tạo không khí học tập thoải mái, cởi mở để học sinh bộc lộ hiểu biết và trao đổi một cách tự nhiên không giấu diếm. Khi gặp tình huống đa số không hiểu thì phải tổ chức học toàn lớp để cung cấp thông tin. Học sinh thực hiện quá trình nhận thức cảm tính khi học sinh có động cơ học tập đúng đắn, thái độ học tập tích cực, cao hơn nữa là đam mê, sáng tạo.

Giai đoạn nhận thức lý tính trong hoạt động học làm việc với sách (đọc – hiểu) diễn ra các hoạt động của các thao tác tư duy (như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa). Ở giai đoạn này diễn ra quá trình kết nối thông tin thu được trong quá trình đọc với câu hỏi tình huống được giao trong nhiệm vụ học của học sinh; học sinh rất cần sự trao đổi, tranh luận giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ  từ phía giáo viên và học sinh trong quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập chiếm lĩnh tri thức. Nếu không xảy ra quá trình này thì không đạt được mục đích của hoạt động học. Để đạt được mục nhận thức, học sinh phải thực hiện quá trình kết nối đó là kết nối giữa kênh thông tin thu được và câu hỏi bài tập giáo viên yêu cầu; là kết nối kinh nghiệm học đã có với tình huống mới; kết nối giữa cái đang học với liên hệ thực tế. Để giúp học sinh có kỹ năng, năng lực học quá trình này đòi hỏi giáo viên tập dượt cách học với tần số cao trong quá trình dạy học.

Nhiệm vụ của giáo viên trong giai đoạn này là sự chuẩn bị hệ thống câu hỏi trong kế hoạch tổ chức điều khiển hoạt động học. Nếu không có câu hỏi để vừa là định hướng tư duy vừa là hoàn thành mục tiêu bài học thì không hình thành ở học sinh động cơ học tập, không xác định mục tiêu học tập. Vì vậy khi giao nhiệm vụ đọc tài liệu phải giao kèm theo hệ thống câu hỏi, bài tập.

4. Hoạt động của GV-HS  khi dạy theo phương pháp làm việc với sách.

a) Thiết  kế câu hỏi định hướng: Giáo viên lập kế hoạch bài dạy như viết giáo án thông thường, nhưng cần lưu ý khi phân chia nội dung cần thiết kế hệ thống câu hỏi định hướng tư duy. Hệ thống câu hỏi này là nội dung trọng tâm của khâu chuyển giao nhiệm vụ học tập đồng thời là tiến trình điều khiển học sinh nổ lực liên tiếp các thao tác tư duy. Hệ thống câu hỏi được thiết kế cho từng nội dung dạy học thường từ 3- 4 câu, mức độ nâng cao dần chuyển từ tiếp cận vấn đề đến giải quyết vấn đề và đào sâu vấn đề

(.ANH.PNG..)

b) Điều khiển học sinh hoạt động học trên lớp

Trước khi tổ chức cho học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu sách báo khác, giáo viên cần tiến hành đàm thoại một cách cặn kẽ, tỉ mĩ về chủ đề học tập, nêu lên những vấn đề cơ bản của tài liệu phải nghiên cứu và xác định trình tự, phương pháp nghiên cứu theo trinh tự đó.

Trong khi lên lớp, bước 1: là tiến hành dẫn dắt học sinh tiếp cận nội dung, mục tiêu bài học, đây là hoạt động khởi động kích thích gây động cơ học tập; bước 2 là giao nhiệm vụ học tập, giao ngữ liệu phần dẫn, giao câu hỏi định hướng giải quyết vấn đề; bước 3 là quản lý hoạt động học, hỗ trợ kịp thời khi học sinh yêu cầu, kích thích học sinh yêu cầu; bước 4 là tổ chức báo cáo sản phẩm, tổ chức đánh giá và chốt kiến thức cho nhiệm vụ đó. 

c) Nhiệm vụ của học sinh: Trước khi lên lớp (ở nhà) thực hiện các yêu cầu của giao viên giao cho các em chuẩn bị (đọc, tìm hiểu thực tế, tóm tắt,...). Trong khi lên lớp học sinh hoạt động tương ứng các bước điều khiển của giáo viên, bước 1: tìm hiểu, cung cấp thông tin đã biết, chưa biết về vấn đề sẽ nghiên cứu; bước 2 là nhận nhiệm vụ học tập, nếu hình thức học nhóm thì pha đầu tiên khi nhận nhiệm vụ là làm việc cá nhân (đọc –hiểu), chuẩn bị chia sẽ, tư vấn trao đổi bạn bè những vấn đề không nhớ, không hiểu; bước 3 là chia sẽ và yêu cầu giáo viên tư vấn; bước 4 là báo cáo kết quả và thảo luận trong nhóm, nhận nhiệm vụ diễn đạt báo cáo, thảo luận kết quả toàn lớp, ghi baì học, ghi những điều lưu ý, ghi kinh nghiệm học,...

Phương pháp dạy học tổ chức học sinh làm việc với sách giáo khoa có nhiều ưu điểm, học sinh được trực tiếp hoạt động nhận thức kiến thức ngay trên tài liệu học tập (SGK) thông qua các hoạt động cảm tính và lý tính học sinh vừa chiếm lĩnh tri thức vừa làm chủ phương pháp kiến tạo tri thức.

Hết.

 

 

Đóng góp ý kiến Bản in
Họ và tên
Nội dung hỏi
  Mã xác nhận: 8622

Lượt truy cập: 416156 lần

Đang online: 3 người