CẦN ĐÁNH GIÁ ĐÚNG THỰC TRẠNG HIỆN NAY ĐỂ CÓ GIẢI PHÁP THÍCH HỢP CHO ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN NỀN GIÁO DỤC NƯỚC NHÀ

9/11/2019 2:07:53 PM

Gần đây GS. Nguyễn Lân Dũng đã có bài viết “Chúng ta nên tự hào hay lo lắng về thực trạng nền giáo dục nước nhà!?”[1]

Chia sẽ từ trang: http://pou.edu.vn/phongkh-htdn/news/can-danh-gia-dung-thuc-trang-hien-nay-de-co-giai-phap-thich-hop-cho-doi-moi-can-ban-va-toan-dien-nen-giao-duc-nuoc-nha.256

http://tempuri.org/tempuri.html

CẦN ĐÁNH GIÁ ĐÚNG THỰC TRẠNG HIỆN NAY ĐỂ CÓ GIẢI PHÁP THÍCH HỢP CHO ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN NỀN GIÁO DỤC NƯỚC NHÀ

1.                  MỞ ĐẦU

            Gần đây GS. Nguyễn Lân Dũng đã có bài viết “Chúng ta nên tự hào hay lo lắng về thực trạng nền giáo dục nước nhà!?”[1]. Trước câu hỏi của GS. Nguyễn Lân Dũng thật khó có câu trả lời chính xác, tôi chỉ xin mạo muội trả lời ngắn gọn là: Chúng ta có thể tự  hào về những con số mà nền giáo dục đã đạt được trong những năm vừa qua nhưng thực sự lo lắng về thực trạng của nền giáo dục hiện nay của nước nhà. Tại sao lại vậy? Vì khi nhìn vào những  dữ liệuvề số học sinh được đến trường trong độ tuổi đi học, số sinh viên và số lượng các trường đại học cao đẳng hiện cúng ta đang có; số huy chương vàng, bạc, đồng của các kỳ thi Olympic quốc tế; nhìn vào đánh giá của PISA; về kết quả thi tốt nghiệp phổ thông hàng năm, về số học sinh giỏi và xuất sắc của mỗi trường, mỗi huyện mỗi tỉnh,…, không tự hào sao được. Nhưng nhìn vào chất lượng nguồn nhân lực của chúng ta đào tạo ra thì không thể không lo ngại. Chính vì thế Trung ương mới có Nghị quyết số 29 – NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”đã được hội nghị trung ương 8, khóa XI thôngqua. Để cuộc  đổi mới lần này mang lại hiệu quả chúng tôi thấy cần phải lưu ý mấy điểm:

·                     Muốn đổi mới phải biết thực trang của nền giáo dục của nước ta hiện nay đang yếu kém ở những điểm nào.

·                     Đâu là giải pháp căn cơ để có thể tạo nên sự chuyển đổi một các cơ bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà.

Sau đây chúng tôi xin trình bày một số nhận định và quan điểm của mìnhvề hai nôi dung trên.

1.                  NHỮNG HẠN CHẾ CỦA NỀN GIÁO DỤC NƯỚC NHÀ HIỆN NAY

Tuy cuộc đổi mới về giáo dục của chúng ta có chậm hơn những đổi mới về kinh tế; nhưng chủ trương về đổi mới nền giáo dục đến nay cũng đã được trên 20 năm mà kết quả mang lại chưa là bao. Nền giáo dục nước nhà xét một cách toàn diện vẫn là nền giáo dục theo tư duy của xã hội truyền thống nên chất lượng của giáo dục nói chung và đào tạo nguồn nhân lực nói riêng chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội phát triển ngày một nhanh và đa dạng . Mà nguyên nhân của nó có thể là:

2.1. Tư duy và cách làm  giáo dục chưa theo kịp thời đại

Nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tình trạng nền giáo dục nói chung và đào tạo nguồn nhân lực nói riêng có hiệu quả quá thấp là nền giáo dục của Việt Nam chưa thoát khỏi cách nghĩ và cách làm giáo dục của giáo dục của xã hội truyền thống. Xã hội truyền thống thường chia đời người thành 3 giai đoạn: Giai đoạn đầu là đến trường; giai đoạn giữa là làm việc và giai đoạn cuối là nghỉ hưu.

Do sự phát triển quá chậm và ít biến đổi của khoa học và công nghệ nên xã hội truyền thống đặt cho sứ mạng của nhà trường phải trang bị đầy kiến thức để con người có đủ khả năng làm việc suốt đời, song lại xem nhẹ việc bồi dưỡng năng lực của người học vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những vấn đề mà công việc và cuộc sống đặt ra. Tư duy này hiện vẫn đang ngự trị ở không ít tổ chức và những cá nhân có trách nhiệm trong hệ thống quản lý giáo dục, dẫn đến hệ lụy trong và cách làm giáo dục là:

·                     Chú trọng vào việc truyền đạt kiến thức, mang nặng tính nhồi nhét; Quá coi trong bằng cấp và kết quả thi cử mà chưa chú trọng đến năng lực và phẩm chất của người học. Cách tổ chức thi hiện nay phần lớn mới chỉ dừng lại việc đánh giá nhận thức sách vở của người học.

·                     Nền giáo dục bị khép kín trong nhà trường và chủ yếu dựa trên sự tương tác giữa thầy và trò trong phạm vi của sách giáo khoa, thiếu sự tương tác với xã hội. Vai trò của gia đình, đoàn thể và xã hội ngày một mờ nhạt trong giáo dục thế hệ trẻ.

·                     Việc sử dụng nguồn lực đầu tư của Nhà nước và xã hội thiếu hiệu quả. Nguồn lực tài chính đầu tư của Nhà nước tuy có tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo do quản lý manh mún và phân tán, chạy theo việc mở trường  và nâng cấp các trường đại học cao đẳng làm cho giữa quy mô đào tạo và chất lượng đào tạo không tương xứng. Bản thân các trường chạy theo mục tiêu trước mắt, thường tranh thủ mở rộng qui mô mà quên đi chất lượng dẫn đến bộ máy quản lý cồng kềnh gây lãng phí, hiệu quả đầu tư kém.

2.2.  Chất lượng  giáo dục chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo con người và nhu cầu phát triển của xã hội

Ở bậc học phổ thông; vì quá tham vọng về trang bị kiến thức nên chương trình giáo dục mang nặng tính lý thuyết sách vở, không phù hợp với tâm sinh lý, khả năng tiếp thu  của người học đặc biệt là ở lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở; nên đã gây ra một số hệ lụy:

·                     Vì chương trình quá rộng và quá nặng cùng với chế độ thi cử nặng nề, cộng thêm bệnh thành tích và cách quản lý theo kiểu chỉ cầm tay chỉ việc; đã gây áp lực rất lớn cho thầy và trò. Chế độ làm việc của giáo viên qúa căng thẳng, dạy và học ở trường không đủ phải tranh thủ dạy và học thêm một cách tràn lan. Học sinh hầu như không còn thời gian để tự tư duy và tìm hiểu kiến thức, nhiều em do áp lực quá lớn của khối lượng kiến thức nên chỉ còn một cách duy nhất là học thuộc lòng để đi thi. Tình trạng này tạo thành thói quen không tốt cho người học không chỉ diễn ra ở bậc phổ thông mà thói quen này đã len lỏi vào các trường đại học và đào tạo nghề.

·                     Tình trạng học đối phó ngày càng phát triển biến thành con bệnh mãn tính rất khó chữa, nó gây ra những tác hại vô cùng lớn đối với thế hệ trẻ không những khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn thâm nhập vào cuộc sống của các em sau này, nó len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, sinh hoạt làm băng hoại đạo đức và hiệu quả của công việc từ nhỏ đến lớn. Một khi đã trở thành thói quen thì thật nguy hiểm mà mọi người không nhận biết ra được mức tác hại của nó.

·                     Với tư duy và cách làm giáo dục như vậy, nền giáo dục của chúng ta thay vì tạo ra những con người năng động biết phát hiện ra những vấn đề nảy sinh ra trong công việc chuyên môn hoặc trong đời sống hàng ngày, biết phân tích và giải quyết vấn đề để thúc đẩy công việc tốt lên thì giáo dục của chúng ta đang tạo ra không ít những con người vừa vô cảm và nhạy cảm với “tư duy kiểu nhà nông” – rất nhạy cảm với lợi ích trước mắt của bản thân và tập thể nhỏ nhưng thiếu quan tâm đến lợi ích lâu dài của đất nước. Giáo dục chưa làm được chức năng là “đào tạo con người” một cách đích thực.

·                     Một hệ quả mà chúng ta không lường được là với chương trình học nhồi nhét và thi cử nặng nề đã lấy đi tuổi thơ của thế hệ trẻ và tác động không nhỏ đến sức khỏe, thể chất của học sinh làm ảnh hưởng lâu dài đến khả năng thái độ làm việc của các em sau này. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho năng xuất lao động của người Việt gần như thấp nhất trong khu vực.

III. MUỐN ĐỔI MỚI PHẢI THAY ĐỔI CĂN BẢN TƯ DUY VÀ CÁCH LÀM GIÁO DỤC

3.1.   Phải hội nhập với tư duy và các làm giáo dục của thế giới ở thế kỷ 21  

Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, tri thức của con người phát triển rất nhanh và cũng nhanh bị thay đổi. Kho tàng kiến thức của nhân loại ngày một phong phú và rộng lớn, một số tri thức cũng nhanh bị lạc hậu và đào thải theo thời gian. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ là sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông làm cho thế giới ngày một “phẳng ra”, con người có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng quốc tế, mỗi quốc gia muốn phát triển cũng phải hội nhập quốc tế. Điều kiện tiên quyết để một quốc gia có thể hội nhập với thế giới có lẽ phải bắt đầu từ giáo dục.

 Chính vì thế tham vọng trang bị cho người học đầy đủ kiến thức cơ bản của nhân loại trong chương trình giáo dục là “không thể, không cần thiết và không hiệu quả”.

Không thể là vì khối lượng kiến thức của loài người rất phong phú và thay đôi rất nhanh và liên tục.

Không cần thiết là vì người học có thể tìm kiếm và ghi nhận được kiến thức không chỉ ở nhà trường mà từ xã hội thông qua phương tiện truyền thông với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và máy tính cá nhân…

Không hiệu quả là vì không đạt được mục tiêu và tinh thần đổi mới giáo dục là chú trọng bồi dưỡng kiến thức kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động. Với cách đào tạo như hiện nay là kiến thức được truyền thụ đã lạc hậu ghi dấu ấn quá sâu trong bộ óc của người học gây ra tác dụng ngược không mong muốn, tạo ra một số nghịch lý trong giáo dục:

·                     Về giáo dục cấp phổ thông: học sinh phổ thông thì học không có thời gian nghĩ ngơi và chơi.

·                     Cơ quan quản lý: thì giám sát đầu vào chặt chẽ hơn giám sát đầu ra, coi trọng bằng cấp hơn năng lực nên dẫn đến nhiều tiêu cực trong tuyển dụng đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc học.

·                     Về giáo dục đại học: Sinh viên cao đẳng, đại học thì chơi nhiều hơn là học. Kết quả điều tra ở một số ngành khoa học kỹ thuật, theo khảo sát của các học giả quốc tế ở những năm cuối thế kỷ trước [3]: ở Mỹ số sinh viên tốt nghiệp vào năm 1970 đến năm 1980 kiến thức đã mòn cũ mất ½, đến năm 1986 số kiến thức được học lão hóa hoàn toàn. Còn đối với Trung quốc số sinh viên tốt nghiệp vào năm 1965 đến 1970 kiến thức đã lạc hậu 45%, đến 1975 tỉ lệ này lên đến 75%.

Một số ngành học còn có tốc độ phát triển nhanh hơn nữa và kiến thức chóng già hóa hơn như: công nghệ thông tin, điện tử viễn thông…

Cũng qua nghiên cứu các học giả trên cho thấy rằng khối lượng kiến thức về khoa học kỹ thuật học được ở trường học truyền thống chỉ cung cấp chỉ đáp ứng 20% tỉ trọng kiến thức ứng dụng trong công việc. Để có thể làm được việc còn thiếu 80% kiến thức, số kiến thức còn thiếu này con người phải tự “bồi dưỡng”, nếu không tự bù đắp được phần hiếu hụt này, con người sẽ bị đào thải ra ngoài cuộc chơi mà anh ta theo đuổi.

Vì vậy muốn thành đạt phải có khả năng tự học và có môi trường để học tập, từ đó xây dựng triết lý giáo dục mới:

·                     Về thời gian: học tập là công việc của cả đời người nên phải học suốt đời.

·                     Về không gian: cả xã hội học tập, ai muốn làm việc được và hòa nhập với cộng đồng đều phải học. Học ở mọi nơi mọi lúc, học từ trong cuộc sống (không phải suốt đời ngồi ở trường để học), hình thành một xã hội học tập ở đó mọi người đều có điều kiện được học và phải học mới có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội.

·                     Thay đổi phương thức đào tạo từ truyền thụ kiến thức hướng tới phát triển năng lực và phẩm chất cho người học.

·                     Giảm dần chức năng chủ quản của các quan  Nhà nước và mạnh dạn  trao quyền tự quản cho các cơ sở giáo dục để phù xu thế chung thế giới..

 3.2.  Muốn đổi mới phải tái cấu trúc lại nền giáo dục nước nhà

Tái cấu trúc ở đây có thể là:

·                     Tái cấu trúc lại nhận thức về giáo dục và vai trò quản lý của Nhà nước với sự nghiệp giáo dục.

·                     Tái cấu lại hệ thống quản lý về giáo dục.

·                     Tái cấu trúc về phương thức giáo dục và đào tạo.

·                     Đổi mới chương trình giáo dục theo hướng tinh giản phát triển năng và phẩm chất con người mới.

Đứng trước tình hình trên chúng tôi đưa ra một số giải pháp cho các cấp học phổ thông, đại học và cao đẳng: 

3.                  2.1. Đổi mới phương thức đào tạo để khuyến khích khả năng tự học của học sinh, sinh viên.

4.                  Đối với bậc học phổ thông:

Có nhiều cách hiểu và quan niệm về mục tiêu giáo dục, theo những tiếp cận giáo dục hiện đại, có thể tóm tắt mục tiêu giáo dục ở các nhà trường phổ thông hiện nay bao gồm: Kiến thức, kỹ năng và thái độ (hay kiến thức, kỹ năng trí tuệ, kỹ năng sống - nhân cách). Năng lực của con người hiện nay được đánh giá trên cả ba khía cạnh: Kiến thức, kỹ năng và thái độ, vậy mục tiêu của bậc học phổ thông là: Hình thành và phát triển được nền tảng tư duy trí tuệ của con người trong thời đại mới:

·                     Kiến thức và kỹ năng cơ bản.

·                     Kỹ năng tư duy khoa học: kỹ năng tư duy phân tích, suy luận, tổng hợp, lôgic…Kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, Kỹ năng tư duy sáng tạo, phản biện. Kỹ năng tự học và tự học hiệu quả.

·                     Nhân cách và kỹ năng sống: Kỹ năng lãnh đạo bản thân như: trung thực, chủ động, tự trọng và tự tin. Kỹ năng đặt mục tiêu, tạo động lực, tổ chức công việc hiệu quả. Kỹ năng ứng xử - giao tiếp, lắng nghe, đàm phán, trình bày thuyết trình. Kỹ năng làm việc nhóm, đồng đội…

Do đó nhiệm vụ của nhà trường trong thời đại hiện nay thay vì truyền thụ kiến thức đơn thuần phải chú trọng đến việc trang bị cho người học khả năng tự học để cho mỗi người có thể học suốt đời, người có học là người biết mình phải học nữa và biết cách học thêm nữa để bồi tri thức, kỹ năng và nhân cách sống cho bản thân mình.

Từ tư duy đó cũng cần phải đổi cách dạy, cách học và kiểm tra đánh giá kết quả của quá trình học. Dạy học của thời đại này là dạy cách học, học là học cách học có thể học suốt đời.

Chức năng của nhà trường bây giờ là: Phải tạo cho người học có cách học hợp lý để có khả năng tự học, nâng cao kỹ năng tư duy để phát triển không ngừng.

Tổ chức thi để đánh giá kết quả học tập thông qua đánh giá năng lực của người học trước những vấn đề cần giải quyết thay vì tổ chức thi cử để đánh giá những kiến thức thu nhận được qua bài giảng.

1.                  Đối với bậc học cao đẳng, đại học:

Việc áp dụng học chế tín chỉ là giải pháp tốt có thể đạt được mục tiêu của giáo dục hiện đại. Với việc áp dụng này chúng ta có thể:

·                     Chuyển từ phương thức đào tạo theo niên chế nặng về truyền thụ kiến thức coi việc dạy và học là trung tâm sang học chế tín chỉ, đặt người học ở trung tâm của quá trình đào tạo.

·                     Tạo sự năng động cho người học.

Tất nhiên cách dạy và cách học theo học chế tín chỉ phải thay đổi, không thể đem cách dạy và cách học của học chế niên chế áp dụng cho học chế tín chỉ. Làm như thế có thể dẫn đến tác dụng khuyến khích mặt trái của học chế tín chỉ. Trong khuôn khổ của bản tham luận, chúng tôi không thể phân tích kỹ về những tác hại và hạn chế của việc áp dụng học chế tín chỉ theo kiểu hình thức đang diễn ra không ít trường hiện nay, xin chờ dịp khác.

Đi đôi với việc đổi mới về phương thức đào tạo, cần phải thay đổi quan điểm và cách dạy, cách học trong nhà trường phổ thông, đại học và cao đẳng. Quan điểm mới về giảng dạy trong trường là:

+ Kiến thức rất đa dạng và thay đổi theo thời gian.

+ Giảng dạy là khai thác và nuôi dưỡng nội lực của học sinh, sinh viên để họ sẽ tự học suốt đời .

+ Tạo ra thói quen rèn luyện tư duy, kĩ năng phân tích vấn đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức, xử lí thông tin. Phương thức tư duy toàn diện của John Dewey là công cụ đáng để chúng ta tham khảo cho việc dạy và học hiện nay.

+ Thói quen học tập là quan trọng trong giáo dục hiện nay (người thầy không còn độc quyền về kiến thức).

Từ quan điểm trên đưa đến cách giảng dạy mới là: nêu vấn đề để thầy và trò cùng giải quyết, với mục tiêu:

·                     Dạy cách học, học cách học để tạo thói quen, niềm say mê và khả năng học suốt đời là nội dung bao quát của việc dạy và học ở các cấp bậc phổ thông, cao đẳng, đại học. Người thầy ở thời đại hiện nay là người biết truyền cảm hứng cho người học.

·                     Đặt người học ở vị trí trung tâm để phát huy tính chủ động của người học

·                     Ứng dụng ICT (công nghệ thông tin và truyền thông) thu thập, lựa chọn và xử lý thông tin nhanh chóng để biến thành tri thức của mỗi cá nhân.

3.2.2. Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập để bồi dưỡng năng lực cho học sinh, sinh viên.

Mục đích: để đánh giá khách quan năng lực học tập của học sinh, sinh viên và tạo điều kiện cho sinh viên có điều kiện học tập suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn của mình, kết quả học tập của người học phải được đánh giá suốt quá trình học từng học phần chứ không chỉ căn cứ vào kết quả của kỳ thi.

Cách đánh giá kết quả học tập của ta hiện nay vẫn chưa xác định được yêu cầu về nhận thức của người học trong từng học phần, từng vấn đề, đánh giá còn chung chung; yêu cầu của bài thi hay kiểm tra vẫn còn dừng ở kiểm tra đánh giá mức nhận thức thấp, thậm chí còn quá thấp; cách làm trên thực chất chưa đánh giá được chính xác năng lực tư duy của người học. 

 Cần đổi mới cách đánh giá bằng việc từng bước tinh giản nội dung cần kiểm tra đánh giá; có sự phân biệt cách đánh giá giữa các học phần cốt lõi và không cốt lõi; có những vấn đề ở các học phần cuộc sống hàng ngày sẽ đánh giá và kiểm tra, người học phải tự điều chỉnh, tự bồi dưỡng để tích lũy kiến thức và kinh nghiệm.

Về đánh giá kết quả học tập một cách có hiệu quả, cần tiếp cận bảng phân loại của B.Bloom liên quan đến các mục đích về kiến thức và các kĩ năng trí tuệ đã được học trò của ông là Giáo sư Lorin Anderson và các cộng sự  điều chỉnh vào năm 1990 bao gồm 6 mức được mô tả trong hình. Vận dụng các tiêu chí này vào thang điểm A, B, C, D, F…một cách phù hợp. Tránh cách làm quy đổi điểm qua lại như hiện nay (thực chất chẳng có thay đổi gì). Rào cản nào khiến ta cải cách nửa vời đến thế?

Nhà trường phải có những giải pháp cụ thể để từng bước tiếp cận với phương thức đánh giá của Bloom, bao gồm:

·                     Triển khai học chế tín chỉ một cách khoa học, không hình thức.

·                     Xây dựng chương trình đào tạo và đề cương chi tiết các học phần trên cơ sở định hướng của POHE, KAS và CDIO.

 

1.                  LỜI KẾT

Để thay lời kết chúng tôi xin mượn ý kiến của tân Bộ trưởng Bộ GD&ĐT phát biểu với báo giới khi nhậm chức và chúc cho dự định của ông thành công mang phúc cho mọi nhà: “Chúng ta phải chuyển cả một nền giáo dục lấy tiếp cận nội dung là chủ đạo sang một nền giáo dục chú trọng dạy phương pháp, kỹ năng trên nền tảng kiến thức chuyên môn cần thiết để phát triển năng lực người học và dạy làm người”.[5] Hay như lời gửi gắm của GS. Hoàng Tụy trong bài “Giáo dục Nước ta đang đi về đâu” [6]: “…mặc dù đã vẽ ra một bức tranh nhiều phần ảm đạm, tôi vẫn nghĩ rằng có lý do để hy vọng và tin tưởng. Tôi nhớ có nhà lãnh đạo đất nước vào thời kỳ khó khăn trước đây đã từng khẳng định: dân tộc này đã quyết thì làm được. Mong rằng ta sẽ sớm quyết để các thế hệ sau đỡ tủi”.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi muốn góp tiếng nói trong hội thảo này để mong sao nền giáo dục Khánh Hòa nói riêng, của Việt Nam nói chung sớm hội nhập được với thế giới, Khánh Hòa có thể trở thành địa điểm xuất khẩu giáo dục trong thời gian sớm nhất.

 

PGS.TS  Quách Đình Liên

Hiệu trưởng Trường ĐH Thái Bình Dương

Th.S  Lê Trung Tín

TÀI  LIỆU THAM KHẢO

[1]- http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Chung-ta-nen-tu-hao-hay-lo-lang-ve-thuc-trang-nen-giao-duc-nuoc-nha-post170449.gd

[2]- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

[3] - Nhiều tác giả: Dự báo thế kỷ 21; Nhà xuất bản Thống kê - 1998.

[4]- Tài liệu về giáo dục thế kỷ21-(nguồn uotes on Education, www. lhup.edu/dsimanek/eduquote.htm).

[5]-http://soha.vn/tan-bo-truong-giao-duc-uu-tien-gi-sau-khi-nham-chuc- 160410093339821.htm

[6]- Giáo dục Nước ta đang đi về đâu - GS Hoàng Tụy http://niemtin.free.fr/vngiaoduc.htm 


Đóng góp ý kiến Bản in
Họ và tên
Nội dung hỏi
  Mã xác nhận: 1123

Lượt truy cập: 369132 lần

Đang online: 28 người